Mỗi ngày một nông sản kêu cứu

Danh sách 1 vài mặt hàng nông sản rớt giá, chờ “giải cứu” kéo dài theo từng ngày. Chỉ dao động nửa đầu tháng 6, trên cả nước có vô vàn mặt hàng nông sản thay nhau kêu cứu.

Nếu không có giải pháp dài hạn, không quá lời khi nói, chung ta có nguy cơ đối diện có tình trạng mỗi ngày 1 nông sản kêu cứu.

Nước mắt rơi trên đồng ruộng

Năm nay trúng mùa khóm (dứa), tuy nhiên từ bắc tới nam bà con nông dân đồng loạt kêu cứu. Tại huyện Phú Hòa (Phú Yên), giá chỉ có 1.000 đồng/trái, nhiều nông dân thua lỗ từ vài chục đến vài trăm triệu đồng vụ này. Người trồng khóm ở tỉnh Thanh Hóa cũng đang đối mặt có tình trạng tương tự.

Cùng có khóm, giá khoai lang ở huyện Phú Thiện (Gia Lai) rớt từ 10.000 xuống còn 3.000 đồng/kg. Bà con nông dân than lỗ, chính quyền địa phương kêu gọi công ty thu mua để “giải cứu”, hỗ trợ bà con ổn định sản xuất. Nông dân tỉnh Gia Lai trước đó thì kêu trời có bí đao thối đầy đồng không ai mua. Đó cũng là cảnh ngộ chung của nông dân ở thành phố Hội An (Quảng Nam). Người trồng bí đao đứng ngồi không yên vì thu hoạch xong không có nơi tiêu thụ, giá chỉ 1.000 – 1.500 đồng/kg vẫn không có người mua. Trước đó không lâu, cũng ở Quảng Nam nông dân kêu cứu vì ớt, dưa hấu không có người mua.

Ở khu vực miền Nam, nông dân trồng mít cũng khốn khổ vì giá mít từ 40.000 – 50.000 đồng rớt xuống còn 5.000 – 7.000 đồng/kg hay như giá dừa từ 170.000 rớt xuống chỉ còn 30.000 đồng/chục. Tại TP.HCM, nông dân nuôi bò sữa lại lao đao vì giá sữa rẻ như… nước lã. Nhiều hộ phải bán bò và đón nhận chịu lỗ. Hay trước đó là câu chuyện ế ẩm củ cải trắng ở Hà Nội.

Những dẫn chứng trên chỉ là 1 phần nhỏ trong bức tranh toàn cảnh về các mặt hàng nông sản đã và đang kêu cứu. Giải cứu đã không còn là điệp khúc mà trở thành 1 bản trường ca của nông sản Việt.

Nông dân tự do

Có hai nguyên nhân chính của hiện trạng trên. Một là – Trung Quốc không mua, phổ biến có đa số các mặt hàng. Thứ hai – chất lượng không đạt yêu cầu của công ty.

Thực tế, chuyện sản xuất chạy theo giá cả phân khúc, theo phong trào đã kéo dài hàng chục năm chứ không phải ngày 1 ngày hai và bài học bí kíp cũng không đếm xuể. Tuy nhiên, nhiều nông dân lại dễ bị cuốn theo tâm lý đám đông, kiếm lời trước mắt có hy vọng mơ hồ sẽ tránh được rủi ro. Bằng chứng cho việc này là tình trạng nóng – lạnh giá heo mấy năm nay. Dù có nhiều thông tin cảnh báo, dù vừa nuôi vừa lo nhưng đa số bà con vẫn lao theo cơn sốt. Cứ giá lên là tăng đàn. Thế là đến lúc xuất chuồng, giá lại giảm. Đã có thời điểm, cả nước phải giải cứu thịt heo khi giá lao dốc không phanh.

Tình trạng được mùa mất giá của nông sản Việt từng được GS Võ Tòng Xuân tóm tắt: Vì nông dân Việt Nam là các người tự do nhất địa cầu, sản xuất không có kế hoạch và cũng không ai quản lý, lập kế hoạch cho họ. Từ đó hình thành tâm lý sản xuất chạy theo phân khúc. Cũng theo GS Xuân, trách nhiệm đầu tiên là của người nông dân nhưng trách nhiệm quan trọng nhất, có nhân tố chọn lọc là của ngành quản lý – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Báo cáo nông nghiệp vẫn…lạc quan

Hằng năm, hằng tháng các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đều cho thấy các tính hiệu lạc quan. Từ trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, xuất khẩu đều tăng tưởng… Nhưng thực ở, có đến 7/8 nhóm nông sản xuất khẩu tỉ đô tùy thuộc vào phân khúc tiêu thụ Trung Quốc; nông sản cần giải cứu ngày càng tăng, diễn ra ở khắp nơi, có đa số mặt hàng.

Nhiều chuyên gia cho rằng, trong thời gian qua nhà nước có nhiều chính sách cho nông nghiệp nhưng nông dân và công ty nhỏ vẫn khó tiếp cận. Những gói tín dụng hàng chục, hàng trăm tỉ đồng ưu đãi lãi suất cho nông nghiệp không biết rõ đối tượng đã được thụ hưởng.

Theo GS Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam, có điều kiện tự nhiên, dân số, đất đai của Việt Nam để chấm dứt tình trạng giải cứu phải tổ chức lại theo hình thức hợp tác xã kiểu mới. Theo đó các hộ nông dân cá thể liên kết có nhau trên tinh thần, mục đích làm ăn thật. Có vùng nguyên liệu, hợp tác xã sẽ sản xuất theo yêu cầu về chủng loại, số lượng, chất lượng của công ty, theo nhu cầu phân khúc. Muốn cho sự hợp tác này bền vững phải có sự tham dự của bên thứ ba là Nhà nước. Nhà nước bằng cơ chế chính sách tạo điều kiện để các nông dân cá thể liên kết được có nhau và môi trường tốt để công ty tham dự đầu tư vào nông nghiệp. Nhà nước phải chọn được các công ty làm ăn thật, có dự án, có phân khúc thật.

Các khách hàng đang xem chuyên mục blog duanbaryaciti.org của https://duanbaryaciti.org