Diện tích và Dân số tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Diện tích và Dân số tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu mới nhất: Diện tích tự nhiên là 1.989,5km2. – Dân số 1.059,5 nghìn người, tỷ lệ dân số 533 người/km2. – Có 5 huyện, trong những số đó có 1 huyện đảo, 1 thành phố, 1 thị xã.

Diện tích và Dân số tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Thông tin chung tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

1. Vị trí địa lý:

Bà Rịa – Vũng Tàu tọa lạc ngay miền Đông Nam Bộ, tiếp giáp tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc, với TPHCM ở phía Tây, với tỉnh Bình Thuận ở phía Đông, còn phía Nam giáp Biển Đông.

Vị trí này rất đặc biệt, đây chính là cửa ngõ hướng ra biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ. Vị trí này cho phép tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hội tụ nhiều tiềm năng để trở nên tân tiến các ngành kinh tế biển như: khai thác dầu khí trên biển, khai thác cảng biển và vận tải biển, khai thác và chế biến hải sản, trở nên tân tiến du lịch nghỉ dưỡng và tấm biển. Ở vị trí này, Bà Rịa – Vũng Tàu có điều kiện trở nên tân tiến tất cả các tuyến hạ tầng giao thông đường bộ, đường không, đường thủy, đường sắt và là một vị trí trung chuyển đi các nơi trong nước và thế giới.

2. Khí hậu:

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa; một năm chia hai mùa rõ rệt. Mùa mưa xuất phát từ tháng 5 đến tháng 10, thời gian này có gió mùa Tây Nam. Mùa khô xuất phát từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này có gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27 độ C, tháng thấp nhất khoảng 24,8OC, tháng cao nhất khoảng 28,6OC. Số giờ nắng rất cao, trung bình hàng năm khoảng 2400 giờ. Lượng mưa trung bình 1500 ẩm. Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng ít có bão.

3. Đặc điểm địa hình:

Địa hình toàn vùng phần đất liền có xu hướng dốc ra biển. Tuy nhiên ở ven biển vẫn có một vài núi cao. Núi có độ cao lớn nhất chỉ khoảng 500 m. Phần đất liền (chiếm 96% diện tích của tỉnh) thuộc bậc thềm cao nguyên Di Linh – vùng Đông Nam Bộ, độ nghiêng từ tây bắc xuống đông nam, giáp biển Đông. Quần đảo Côn Đảo (chiếm 4% diện tích của tỉnh) gồm 16 đảo lớn nhỏ, trong số đó đảo Côn Sơn có diện tích lớn nhất rộng 57,5 km2, cách Vũng Tàu 180 km.

Toàn tỉnh có hơn ¾ diện tích đồi núi, thung lũng thấp, có trên 50 ngọn núi cao 100 m trở lên, lúc ra biển tạo thành nhiều vũng, vịnh, mũi, bán đảo, đảo. Độ cao trên 400 – 500 m có núi Ông Trịnh, núi Chúa, núi Thánh Giá. Địa hình tập trung vào 4 loại đặc trưng (đồng bằng hẹp, các núi, gò đồi, thềm lục địa).

4. Dân số:

Dân cư toàn tỉnh­ có tổng số là 961,2 nghìn người, trong số đó dân số thành thị chiếm phần 44,9%, dân số nông thôn chiếm phần 55,1%, tỷ lệ trung bình: 484 người/km2. Dân cư tập trung cao nhất ở thành thị Vũng Tàu, huyện Long Điền, thị xã Bà Rịa với tỷ lệ lần lượt là 1.771  người/km2, 1.544 người/km2, 942 người/km2.

Dân tộc: Chủ yếu là người Việt, ngoài ra có các dân tộc khác như Hoa, Châu Ro, Mường, Tày.

5. Tài nguyên thiên nhiên:

a. Tài nguyên đất

Với diện tích 197.514 ha, chia thành 4 loại: đất rất tốt là loại đất có độ phì rất cao, chiếm phần 19.60% diện tích tự nhiên, chủ yếu là đất phù sa và đất xám; đất tốt chiếm phần 26,40%; đất trung bình chiếm phần 14,4%; còn lại 39,60% là đất nhiễm phèn, mặn, đất xói mòn.

Đánh giá những loại đất của Bà Rịa – Vũng Tàu cho thấy: nhóm đất có ý nghĩa lớn cho sản xuất nông – lâm nghiệp chiếm phần 60%, tỷ trọng này tương đối lớn so với nhiều tỉnh trong cả nước. Nhóm đất này bao gồm đất phù sa, đất xám, đất đen và đất đỏ vàng. Điều này cho phép tỉnh có thể trở nên tân tiến một nền nông nghiệp đủ mạnh. Ngoài ra, còn một tỷ trọng lớn đất không tiện lợi cho trở nên tân tiến nông nghiệp bao gồm đất cát, đất nhiễm phèn, mặn, đất xói mòn…

b. Tài nguyên rừng

Diện tích rừng của Bà Rịa – Vũng Tàu không lớn. Đất có khả năng trồng rừng là 38.850 ha, chiếm phần 19,7% diện tích tự nhiên, trong số đó đất hiện đang có rừng là  30.186 ha (rừng môi trường thiên nhiên là 15.993 ha, rừng trồng là 14.253 ha), như vậy còn khoảng 8,664 ha đất lâm nghiệp chưa xuất hiện rừng.

Hiện nay tỉnh có hai khu rừng nguyên sinh là: khu bảo tồn môi trường thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu có diện tích 11.392 ha và khu vườn quốc gia Côn Đảo diện tích gần 5.998 ha. Tài nguyên rừng đang có xu hướng giảm, những loại rừng giàu (trữ lượng gỗ trên 180 m3/ha) không còn, rừng trung bình chỉ với lại 1,5% diện tích có rừng. Trước kia trong rừng có trên 700 loài gỗ, thảo mộc và hơn 200 loài động vật trong số đó có tương đối nhiều loại gỗ và động vật quý hiếm nhưng đến ngày nay hầu như những loại gỗ và động vật quý hiếm không còn.

Rừng của Bà Rịa – Vũng Tàu chỉ mất tầm quan trọng trong tạo cảnh quan, môi trường, phòng hộ và trở nên tân tiến du lịch, còn việc khai thác rừng lấy gỗ, vật liệu không lớn.

c. Tài nguyên khoáng sản

Bà Rịa – Vũng Tàu có tương đối nhiều loại khoáng sản, nhưng đáng kể nhất là dầu mỏ, khí môi trường thiên nhiên và khoáng sản làm vật liệu thi công dựng, Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng có tiềm năng lớn về dầu mỏ và khí môi trường thiên nhiên của Việt Nam. Tổng trữ lượng tiềm năng dầu khí theo xác minh năm 2000 vào khoảng 2.500 – 3.500 triệu m3 (bao gồm dầu 957 triệu m3, khí 1.500 tỷ m3). Trong tổng trữ lượng dầu khí đã xác minh, vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu có trữ lượng là 400 triệu m3 dầu, chiếm phần 93,29% trữ lượng cả nước; trữ lượng dầu khí khoảng trên 100 tỷ m3, chiếm phần 16,2% trữ lượng khí cả nước.

Dầu mỏ và khí đốt của Bà Rịa – Vũng Tàu phân bố chủ yếu ở bể Cửu Long và bể Nam Côn Sơn. Bể Cửu Long trữ lượng khai thác khoảng 170 triệu tấn dầu và 28 – 41 tỷ m3 khí. Trong đó, mỏ Bạch Hổ trữ lượng 100 triệu tấn dầu và 25 – 27 tỷ m3 khí, mỏ Rồng trữ lượng 10 triệu tấn dầu và 2 tỷ m3 khí, mỏ Hồng Ngọc và Rạng Đông trữ lượng 50 – 70 triệu tấn dầu và 10 – 15 tỷ m3 khí. Bể Cửu Long có điều kiện khai thác tốt nhất do nằm không xa bờ, trong vùng biển nông (độ sâu đáy <50 m), thuộc khu vực không xẩy ra bão lớn. Bể Nam Côn Sơn: trong 60 cấu tạo phát hiện, có tương đối nhiều cấu tạo đã khoan thăm dò và có dấu hiệu như Dừa, Mùa (lô 8), Đại Hùng, Thanh Long (các lô 05, 11, 12, 06, 04); các mỏ có triển vọng là Đại Hùng, Thanh Long, Lan Tây, Lan Đỏ, Mộc Tinh, Rồng Bay, Mỏ Đại Hùng đã đi vào khai thác từ thời điểm tháng 10 – 1994, trữ lượng khai thác khoảng trong khoảng 30 – 50 triệu tấn dầu và 6 – 10 tỷ m3 khí. Trữ lượng mỏ Lan Tây là 42 tỷ m3 khí, Lan Đỏ 14 tỷ m3 khí, sau đó có thể đưa lên 80 tỷ m3 cho cả 2 mỏ.

Khoáng sản làm vật liệu thi công của Bà Rịa – Vũng Tàu rất đa dạng, bao gồm: đá thi công dựng, đá ốp lát, phụ gia xi măng, cát thuỷ tinh, bentonit, sét gạch ngói, cao lanh, cát thi công dựng, than bùn, immenit… Hiện nay, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã thi công 19 mỏ với tổng trữ lượng 32 tỷ tấn, phân bố ở hầu khắp các huyện trong tỉnh, nhưng chủ yếu ở các huyện Tân Thành, Long Đất, thị xã Bà Rịa và thành thị Vũng Tàu. Chất lượng đá khá tốt, có thể sử dụng làm đá dăm, đá hộc cho thi công dựng; giao thông, thuỷ lợi, đá khối cho xuất khẩu. Nhìn chung các mỏ nằm gần đường hạ tầng giao thông nên khai thác thuận lợi.

d. Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt của Bà Rịa – Vũng Tàu chủ yếu do ba con sông lớn cung cấp, đó là sông Thị Vải, đoạn chảy qua tỉnh dài 25 km, sông Dinh đoạn chảy qua tỉnh dài 30 km, sông Ray dài 120 km. Trên các con sông này có 3 hồ chứa lớn là hồ Đá Đen, hồ sông Ray, hồ Châu Pha…

Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm của tỉnh cũng khá phong phú, tổng trữ lượng có thể khai thác là 70.000 m3/ngày đêm, tập trung vào ba khu vực chính là: Bà Rịa – Long Điền 20.000 m3/ngày đêm; Phú Mỹ – Mỹ Xuân 25.000 m3/ngày đêm; Long Đất – Long Điền 15.000 m3/ngày đêm. Ngoài ba vùng trên, khả năng khai thác nước ngầm rải rác khoảng 10.000 m3/ngày đêm. Nước ngầm trong tỉnh tọa lạc ngay độ sâu 60 – 90 m, có dung lượng dòng chảy trung bình từ 10 – 20 m3/s nên khai thác tương đối dễ dàng. Các nguồn nước ngầm có thể cho phép khai thác tối đa 500.000 m3/ngày đêm, bảo đảm đáp ứng đủ nước cho nông nghiệp, công nghiệp và cho sinh hoạt.

e. Tài nguyên biển:

Bà Rịa – Vũng Tàu có bờ biển dài 305,4 km, trong số đó khoảng 70 km có bãi cái thoai thoải, nước xanh, có thể sử dụng làm bãi tắm quanh năm. Vịnh Giành Rái rộng khoảng 50 km2 có thể thi công một hệ thống cảng hàng hải.

Với diện tích thềm lục địa trên 100.000 km2 đã tạo cho tỉnh không những tọa lạc ngay quan trọng về an toàn quốc phòng, mà còn phát sinh một tiềm năng to lớn để trở nên tân tiến các ngành kinh tế biển. Thềm lục địa của Bà Rịa – Vũng Tàu  có 661 loài cá, 35 loài tôm, 23 loài mực, hàng ngàn loài tảo, trong số đó có tương đối nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng hải sản có thể khai thác tối đa hàng năm từ 150.000 – 170.000 tấn. Tài nguyên biển của Bà Rịa – Vũng Tàu rất tiện lợi cho trở nên tân tiến vận tải biển, hệ thống cảng, du lịch và công nghiệp khai thác, chế biến hải sản.